Quyền thừa kế sau khi cha, mẹ mất theo pháp luật như thế nào ? Cách xác định quyền thừa kế ?

https://luatsubds.net

Quyền thừa kế sau khi cha, mẹ mất theo pháp luật như thế nào ? Cách xác định quyền thừa kế ?

Quyền thừa kế sau khi cha, mẹ mất theo pháp luật như thế nào ? Cách xác định quyền thừa kế ?

CÂU HỎI: cho tôi xin hỏi bố tôi mất cách đây đã 40 năm. Mẹ tôi sinh được 6 người con 4 trai và 2 gái. Một bác đầu do tham gia chiến tranh nên đã mất lúc còn trẻ chưa có gia đình. 2 người con trai và 1 chị gái của tôi thì đã lập gia đình. Tôi thì được mẹ cho làm nhà ở trên mảnh đất của bà. Và đứa em trai út cũng ở đó . Bà nói sau này sẽ cho tôi và đứa em út miếng đất đó anh em đều không nói gì nhưng mẹ vẫn đứng tên. Cho đến một ngày em trai út tôi qua đời đột ngột thì giấy tờ vẫn chưa sang tên mà mẹ tôi thì đã bị lẫn không còn minh mẫn để quyết định gì nữa thì thừa cơ hội đó ông anh đầu của tôi đã ra dành làm thêm một cái nhà trên mảnh đất đó, còn hù dọa là sẽ cầm quyền hết không cho nhà tôi với em trai tôi làm sổ đỏ tách thửa, do tôi là con gái và em tôi thì đã mất . Giờ cho tôi xin hỏi nếu mẹ tôi mất thì manh đất đó được chia như thế nào ? Hiện tại mảnh đất đó có 3 cái nhà của em út tôi ,của tôi, và một cái của ông anh đầu mới ra xây ? Xin luật sư tư vấn giúp tôi. Cảm ơn nhiều.

 Trả lời:

Tại Khoản 1 Điều 650, Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định như sau:

Điều 650. Những trường hợp thừa kế theo pháp luật

1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:

a) Không có di chúc;

b) Di chúc không hợp pháp;

c) Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;

d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

2. Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản sau đây:

a) Phần di sản không được định đoạt trong di chúc;

b) Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật;

c) Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Trong trường hợp của bạn, khi mẹ bạn mất, phần đất của mẹ bạn sẽ được chia theo pháp luật. Do gia đình có 06 người con nhưng 01 người đã mất và không có con, chính vì vậy phần đất của mẹ bạn để lại sẽ được chia đều cho 05 phần gồm 4 người con còn lại còn sống và 01 phần là phần thừa kế thế vị cho vợ con của chú út.

Hiện tại, trên mảnh đất có 03 căn nhà của bạn, chính vì vậy việc phân chia phần đất của các mẹ bạn để lại sẽ được căn cứ vào thỏa thuận của những người hưởng thừa kế theo quy định tại Điều 656 Bộ luật Dân sự năm 2015:

Điều 656. Họp mặt những người thừa kế

1. Sau khi có thông báo về việc mở thừa kế hoặc di chúc được công bố, những người thừa kế có thể họp mặt để thỏa thuận những việc sau đây:

a) Cử người quản lý di sản, người phân chia di sản, xác định quyền, nghĩa vụ của những người này, nếu người để lại di sản không chỉ định trong di chúc;

b) Cách thức phân chia di sản.

2. Mọi thỏa thuận của những người thừa kế phải được lập thành văn bản.

 

2. Tư vấn quyền thừa kế của con riêng ?

Thưa luật sư, Xin Luật sư tư vấn cho em hướng giải quyết trong trường hợp sau: Trước đây khi chưa cưới mẹ em, ba em đã có con với người làm trong gia đình, không ai biết đó là con của ba em trừ bà nội. Vì vậy bà đã nuôi hai mẹ con người đó và còn làm giấy khai sinh cho đứa trẻ lấy họ của bà nội. (Chuyện này xảy ra khi em chưa ra đời nên em cũng không rõ lắm, giờ họ giống như người trong gia đình) Sau đó ba em cưới mẹ em và đẻ ra 5 đứa con(mẹ em cũng không biết gì về chuyện này cho đến khi bà nội mất, trước đây mẹ chỉ tưởng người đó chữa hoang nên nội em thương tình đem về nuôi vì nôi em là bà đỡ đẻ). Trước khi bà nội mất bà có nói bóng gió về chuyện đó nên các o và các bác ai cũng nghi ngờ và nói bóng gió người đó là con của ba em mỗi khi có tụ họp gia đình làm mẹ em buồn, lo nghĩ và phát bệnh, trong khi ba em vẫn không nói gì về chuyện đó. Năm anh chị em em rất thương mẹ nhưng cũng không dám hỏi vì sợ ba buồn nên vẫn coi như không biết. Mọi chuyện vẫn rất mập mờ. Xin cho em hỏi là sau này nếu một trong hai người ba hoặc mẹ mất đi mà người con ngoài giá thú đó đến nhận cha con thì người con ngoài giá thú này có được hưởng quyền thừa kế như 5 đứa con ruột hay không? Nếu ba mẹ em đã làm di chúc viết rằng sau khi một trong hai người mất đi thì tài sản thuộc quyền quyết định của người còn lại. mà như em được biết thì như vậy có nghĩa là người còn lại sẽ toàn quyền quyết định số tài sản đó.

Năm chị em em sẽ không được quyền gì? Chuyện thừa kế em không quan trọng lắm nhưng em không muốn tài sản ba mẹ em khổ cực làm ra sau khi lấy nhau lại vào tay người khác ngoài ba hoặc mẹ và năm chị em em.

Rất mong nhận được sự tư vấn sớm của luật sư. Xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: minh doan

 

Trả lời:

Chào bạn! Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi cho chúng tôi. Câu hỏi của bạn chúng tôi xin được trả lời như sau:

- Nếu bố của bạn mất đi: những người được hưởng thừa kế bao gồm 5 anh em bạn, mẹ bạn, người con riêng và người vợ lẽ.

+ Trường hợp bố bạn mất, có để lại di chúc thì tài sản của bố bạn sẽ được chia theo di chúc. Nếu trong di chúc bố bạn để lại, không chia tài sản cho người con riêng và người phụ nữ kia, thì người con riêng và người phụ nữ kia mỗi người vẫn có quyền được hưởng phần tài sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật (căn cứ điều 644 Bộ luật dân sự 2015). Trong trường hợp này có 8 suất thừa kế, bao gồm 5 anh em bạn, người con riêng, người vợ lẽ. Nếu bố bạn để lại di chúc để lại toàn bộ tài sản cho mẹ của bạn, thì 5 anh em bạn, người con riêng, người phụ nữ kia sẽ được hưởng phần tài sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế, phần tài sản còn lại mẹ bạn được thừa kế.

+ Trường hợp bố bạn mất đi không để lại di chúc thì tài sản của bố bạn sẽ được chia đều cho vợ và các con. Trong trường hợp này, người con riêng và người phụ nữ kia cũng được hưởng thừa kế theo pháp luật.

- Nếu mẹ của bạn mất đi: những người được hưởng thừa kế bao gồm bố bạn và 5 anh em bạn. Trong trường hợp này thì người con riêng và người vợ kia không được hưởng tài sản thừa kế do mẹ bạn để lại. Trừ trường hợp nếu mẹ bạn có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng người con riêng như mẹ con thì người con riêng được hưởng thừa kế theo pháp luật

Ý kiến bổ sung:

Chào bạn rất cám ơn bạn đã gửi câu hỏi về công ty, công ty luật Minh Khuê xin tư vấn trường hợp của bạn như sau:

Điều thứ nhất bạn hỏi rằng: “ sau này nếu một trong hai người ba hoặc mẹ mất đi mà người con ngoài giá thú đó đến nhận cha con thì người con ngoài giá thú này có được hưởng quyền thừa kế như 5 đứa con ruột hay không”.

Chúng tôi xin trả lời rằng: trong bộ luật dân sự 2015 không phân biệt quyền thừa kế theo pháp luật của con trong giá thú hay con ngoài giá thú đối với di sản của cha. Chính vì vậy mà nếu sau này cha bạn mất đi người con đó có đầy đủ những chứng cứ để chứng minh rằng người đó là con của bố bạn với người phụ nữ khác thì người con riêng của bố bạn vẫn được hưởng thừa kế như 5 đứa con ruột.

Tại điều 654 Bộ luật dân sự 2015 cũng đã quy định về điều này như sau:

Con riêng và bố dượng, mẹ kế nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản theo quy định tại Điều 652 và Điều 653 của Bộ luật này.

Đúng như bạn nói nếu sau này một trong hai người mất đi mà bố mẹ bạn làm di chúc viết rằng tài sản thuộc toàn quyền quyết định của người còn lại thì có nghĩa là người đó sẽ toàn quyền được quyết định xem số di sản thừa kế đó được chia cho những ai, được dùng vào việc gì và nghĩa vụ thừa kế như thế nào.
Người lập di chúc có quyền để lại di sản cho bất cứ cá nhân hoặc tổ chức nào. Họ có thể là con, cha, mẹ, vợ, chồng… của người thuộc diện thừa kế theo luật dựa trên các quan hệ hôn nhân, quan hệ nuôi dưỡng hoặc quan hệ huyết thống....

Di chúc là thể hiện ý chí cá nhân trong việc định đoạt tài sản của họ trước khi chết vì vậy mà 5 chị em bạn sẽ không có quyền can thiệp vào nội dung của bản di chúc đó.

Tuy nhiện tại điều 686 Bộ luật dân sự 2015 có quy định: “Trong trường hợp yêu cầu chia di sản thừa kế mà việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của bên vợ hoặc chồng còn sống và gia đình thì bên còn sống có quyền yêu cầu Toà án xác định phần di sản mà những người thừa kế được hưởng nhưng chưa cho chia di sản trong một thời hạn nhất định, nhưng không quá ba năm, kể từ thời điểm mở thừa kế; nếu hết thời hạn do Toà án xác định hoặc bên còn sống đã kết hôn với người khác thì những người thừa kế khác có quyền yêu cầu Toà án cho chia di sản thừa kế.”

Điều đó có nghĩa là nếu trong trường hợp việc chai di chúc của này làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của các bạn thì các bạn có thể yêu cầu Tòa án xác định lại phần di sản này và bạn chú ý tằng thời hạn nhất định là không quá 3 năm kể từ thời điểm mở thừa kế. 

 

3. Hướng dẫn phân chia quyền thừa kế tài sản ?

Thưa luật sư, Giải quyết dùm em trong trường hợp sau đây: Ông A và Bà B kết hôn ở Huế năm 1980 có ba con chung là X(sinh 1981), Y (sinh1983), Z(sinh 1996) . Năm 2000 do mâu thuẫn gia đình A bỏ vào tp HCM sống và về sống chung như vợ chồng với Bà C, có con chung với bà C là T (sinh 2002). Tài sản chung của A và B là 1.2 tỷ, tài sản chung của A và C là 400 triệu. X kết hôn 2002, có 1 con là X1 (sinh 2002). Năm 2002 X chết, năm 2003 A chết. anh chị hãy chia tài sản của A trong các trường hợp sau: 1.A chết không để lại di chúc 2.A chết để lại di chúc là toàn bộ tài sản chia đều cho C và T có thể trả lời em trong hôm nay được không ?

Em xin cảm ơn nhiều.

 

Luật sư tư vấn:

Trước tiên, ta cần xác định số tại sản mà A sở hữu. Theo những thông tin bạn cung cấp, tài sản chung của A và B là 1.2 tỷ, tài sản chung của A và C là 400 triệu. Do đó, tổng tài sản của A bao gồm một nửa số tài sản chung của A và B cộng với một nửa số tài sản chung của A và C, cụ thể là 600 triệu + 200 triệu là 800 triệu.

+ Trường hợp A chết không để lại di chúc:

Nếu A không để lại di chúc thì việc chia di sản sẽ tiến hành theo quy định của Bộ luật dân sự 2015.

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

A có quan hệ hôn nhân với B và quan hệ này vẫn còn tồn tại kể cả trong trường hợp A và B không còn chung sống nên A được hưởng thừa kế. C tuy sống chung với B như vợ chồng nhưng quan hệ này không được pháp luật bảo vệ và công nhận nên C không được hưởng thừa kế.

Như vậy, những người được hưởng thừa kế bao gồm: B, X, Y, Z và T; những người này cùng thuộc hàng thừa kế đầu tiên và hưởng phần di sản bằng nhau. Mỗi người được hưởng 800/5= 160 triệu.

Do X đã chết trước A nên quyền thừa kế của X chuyển cho con là X1 theo quy định tại Điều 652 Bộ luật dân sự 2015.

Điều 652. Thừa kế thế vị

Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.

+ Trường hợp A chết để lại di chúc là toàn bộ tài sản chia đều cho C và T

Theo quy định của Điều 644 Bộ luật dân sự 2015:

Điều 644. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.

2. Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này.

Trân trọng./.

 

4. Xác định quyền thừa kế theo pháp luật ?

Chào luật sư! Xin luật sư tư vấn cho trường hợp của tôi như sau : Ba tôi trước đây có một đời vợ và một đứa con nhưng hai người đã ra tòa làm thủ tục kí đơn li hôn rồi. Người vợ trước của ba sống cùng con, và họ cũng đã có gia đình riêng, lâu rồi không còn quan hệ, liên lạc gì với ba tôi. Ba tôi và mẹ tôi cưới nhau từ năm 1985, có làm đám cưới nhưng không ra ngoài ủy ban xã làm thủ tục đăng ký kết hôn, sinh ra tôi và 1 đứa em nữa. Ngày xưa thủ tục đăng kí khai sinh hộ khẩu còn đơn giản nên tất cả giấy khai sinh, sổ gia đình chúng tôi đều có mang tên ba mẹ đầy đủ.

Tuy nhiên có một điều ba tôi vẫn chưa ra ngoài ủy ban xã, nơi đăng ký kết hôn để xóa đăng kí với người vợ trước, mà hiện giờ lại mất tờ đơn ly hôn trước kia nên không thể đăng kí kết hôn lại với mẹ tôi. Ba mẹ tôi có nhờ tòa án đi trích lục tờ ly hôn cũ cũng không tìm được. Ba tôi có 1 mảnh đất được thừa kế từ ông nội tôi, hiện giờ ba tôi đang đứng tên.

Xin luật sư tư vấn giúp tôi nếu ba tôi mất mà không có di chúc vậy những ai được quyền thừa kế mảnh đất đó ?

Tôi xin cảm ơn nhiều! Mong sớm nhận được hồi đáp từ luật sư.

 

Trả lời:

Trường hợp thừa kế không có di chúc được quy định tại Bộ luật Dân sự 2015 như sau:

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Như vậy, vợ và các con của bố bạn sẽ được hưởng di sản thừa kế (ngoài ra cả ông bà bạn nếu còn sống). Mẹ bạn chỉ được hưởng di sản thừa kế khi có căn cứ chứng minh có quan hệ hôn nhân với bố bạn mà bằng chứng ở đây phải là giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Vì 2 người chưa đăng ký kết hôn nên mẹ bạn không nằm trong hàng thừa kế thứ nhất. Còn vợ cũ của bố bạn mặc dù chưa hủy giấy đăng ký kết hôn và đã mất giấy ly hôn nhưng không có nghĩa là vẫn là vợ chồng, bởi lẽ thủ tục ly hôn và phán quyết của tòa án đã có thật, điều này không phụ thuộc vào giấy tờ mà là quan hệ dân sự hôn nhân đã chấm dứt trên thực tế theo phán quyết của tòa. Cho nên, những người con sẽ được hưởng toàn bộ di sản thừa kế. 

5. Thủ tục đòi quyền thừa kế phần di sản của bố để lại ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Bố chồng tôi đã chết năm 2015, hiện nay sổ đỏ đã mang tên mẹ tôi (lúc chết vẫn mang tên bố tôi, sau đó mới chuyển sang mẹ). Hiện nay mẹ chồng tôi có 2 người con trai. Mẹ tôi chung sống với người khác như vợ chồng.

Vậy, các con có quyền đòi hưởng quyền thừa kế từ phần của bố không ?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

 

Trả lời:

Với dữ liệu bạn đưa ra, có thể hiểu rằng bố chồng bạn mất và không để lại di chúc. Điều 650 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về những trường hợp thừa kế theo pháp luật:

Điều 650. Những trường hợp thừa kế theo pháp luật

1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:

a) Không có di chúc;

b) Di chúc không hợp pháp;

c) Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;

d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

2. Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản sau đây:

a) Phần di sản không được định đoạt trong di chúc;

b) Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật;

c) Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.

Theo quy định trên, người chết không để lại di chúc định đoạt tài sản của mình, thì di sản của người đó sẽ được chia theo pháp luật.

Những người thừa kế theo pháp luật được quy định tại Điều 651 BLDS năm 2015:

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Theo quy định trên, người thừa kế theo pháp luật được xác định dựa trên 3 mối quan hệ với người chết là quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân và quan hệ nuôi dưỡng; và được pháp luật quy định thành nhiều hàng thừa kế. Di sản thừa kế chỉ được chia cho một hàng thừa kế và tuân theo trình tự ưu tiên là 1, 2, 3, nghĩa là những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước (do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản). Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

Trong trường hợp của bạn, chồng của bạn ( tức con đẻ của người đã chết ) thuộc hàng thừa kế thứ nhất đối với di sản của bố chồng bạn. Do đó chồng bạn có quyền đòi hưởng thừa kế phần di sản của bố . Tuy nhiên, nếu chồng bạn không có quyền hưởng di sản theo quy định tại Điều 643 Bộ luật dân sự hoặc bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản thì anh ấy sẽ không được nhận phần di sản của bố mình.

Hơn nữa, Điều 612 BLDS quy định:

 "Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác."

Như vậy, việc chia thừa kế còn phụ thuộc vào nguồn gốc tài sản:

1. Di sản riêng của bố chồng bạn sẽ được chia đều cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất.

2. Tài sản chung của bố chồng và mẹ chồng bạn (tài sản chung của vợ chồng) sẽ được chia đôi. Phần của người mất được chia đều cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất.

Mọi thông tin chi tiết vui lòng liên hệ qua hotline 0913 947 089 hoặc gửi qua Email: daoquochung1978@gmail.com để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ.